TIN MỚI

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

CHÁN CHẢ BUỒN CHẾT

Facebook nhạt như nước ốc! Mà thực ra cuộc đời này vốn nhạt! Hoặc rằng tôi hỏng vị giác mất rồi … sau rất nhiều năm bất chấp tất cả cố tọng vào mình đủ thứ hổ lốn… Khi ta nếm trải và tận hưởng quá nhiều thứ, ta cứ tưởng rằng mình sẽ trở nên tinh tế… Thật buồn cười! Điều đó chỉ khiến ta nhanh chóng chán ngán tất thảy và rồi đến một ngày vô cảm trước mọi thứ.

Di động reo, Alu "Vài ly không em? Giờ anh qua đón em nhé!"

Chả hứng thú gì nhưng thôi cũng được. Ít ra là có cớ để bước ra khỏi căn phòng này. Tôi luôn phải mượn một động lực nào đó từ người khác để thấy có vẻ như đang hiện diện ở thực tại này. Có một anh chàng để yêu, đam mê một cái gì đó, say sưa với những ý tưởng cải tạo thế giới, nỗ lực để đạt tới một hình ảnh hoàn hảo… Tất cả! Tất cả những thứ đó chẳng qua là tôi tự mua dây buộc mình, không thì tôi đã chết từ lâu rồi. Có thể là vì hèn, vì ẩn sâu vẫn còn ít nhiều nỗi sợ chết, nhưng có một lập luận luôn ám ảnh tôi: “Chết… Rồi sao?”. Sau cái chết là cái gì? Lại tiếp tục tất cả như bây giờ sao. Nghĩ đến đó, tôi hết cả hứng với cái chết.

Chúng tôi đi vào một Rock bar. Đây là quán quen một thời của tôi, anh chàng này không hề biết. Rượu xịn, đám người đến đây ăn mặc rất độc, và đúng gu nhạc của tôi: một sự điên rồ bị gằn xuống và chỉ bùng nổ khi đến thời điểm của nó. Nhiều năm rồi tôi không quay lại đây dù ngày nào cũng phóng xe đi ngang qua. Chả là xưa kia cũng từng “gây họa” với một anh chàng khác ở chỗ này. Thời gian qua đi, anh chàng cũ cũng chẳng đến đó nữa, nhưng nhạc thì vẫn như xưa! Vãi cả nhạt!

Anh chàng “đương thời” bắt đầu huyên thuyên về cái sự sành âm nhạc rồi chuyển sang sành rượu. Mồm tôi như cái máy đối đáp với anh một cách chuyên nghiệp. Tôi nghe rõ từng từ một, nghe rõ cả cái điệu đều đều buồn ngủ trong giọng của mình. Đôi khi tôi phải tự mình phục mình, tôi không hiểu sao mình có thể giả dối đến vậy với cuộc đời. Thứ tôi làm chả ăn nhập gì với điều tôi nói, thứ tôi nói chả liên quan đến điều tôi nghĩ, và điều tôi nghĩ có vẻ khác xa với con người thật của tôi.

Có một điểm chung giữa uống rượu và làm tình, đó là chúng khiến tôi có cảm giác mình đang tồn tại, dù ngắn thôi. Hai cái thú vui ấy khiến cho những mạch máu của tôi đập mạnh hơn, nội tạng của tôi cọ xát vào nhau hơn, nhờ cọ xát nên sinh ra điện, nhờ có điện nên tôi có thêm một tý động lực để sống. Nhưng điện chỉ tạo được cảm giác thích thú vào lúc đầu thôi… Một lúc sau, khi những cái vuốt ve đã nhạt, những cái hôn trở thành thừa thãi, mặc dù nhiệt lượng vẫn còn nhưng cái cảm giác của dòng điện không còn nữa. Và thế là tôi bắt đầu nguội dần… nguội lạnh… Thế nên, tôi ghét người ta gọi làm tình là “mây mưa”. Mây mưa thì lạnh chết đi được. Ai đó có thể cần nước lạnh để dội tắt ngọn lửa hừng hực của mình, chứ tôi thì không. Với tôi, nếu làm tình mà lạnh thì không được tính là làm tình.

Làm thế nào để tìm lại được cái cảm giác hưng phấn của thuở ban đầu. Nghe một câu chuyện cười – vô cảm. Một ai đó đã nói với tôi rằng: “Trẻ con thật sướng, chỉ một cái lá rung rinh cũng khiến chúng cười. Còn chúng ta bây giờ, cả cái nhà rung cũng chả thấy buồn cười gì cả.” Cả cái nhà rung thì buồn cười gì, người lớn sẽ sợ khóc thét lên như trẻ con ấy chứ! Đến sợ bây giờ cũng không sợ nữa, nguy thật! Không gì làm tôi sợ, không gì làm tôi vui, không gì làm tôi buồn, không gì làm tôi hứng thú! Chả lẽ mình sắp đắc đạo rồi sao? Vì những dấu hiệu ấy là dấu hiệu của người sắp đắc đạo mà.
Tôi chỉ thấy những dấu hỏi đi đi lại lại mà chả biết mình đang đi đâu. Nhìn lại mình, hóa ra tôi cũng chỉ là một dấu hỏi to tướng. Ngoài kia mưa vẫn rơi nhưng trời đã sáng. Mất cả đêm chỉ để cùng nhau nói về cái sự chán đời… Thời gian trôi qua thật lãng phí…
Không thứ lãng phí nhất là loài người phải bỏ ra bao nhiêu neuron thần kinh, bao nhiêu nguyên vật liệu, bao nhiêu nhân công lao động… để sáng chế và sản xuất đồng hồ. Lấy một thứ hữu hạn để đo một thứ vô hạn và dọa dẫm người khác rằng: thời gian là thứ quý báu, đã qua rồi không lấy lại được. Họ quên mất rằng những thứ vô hạn thì không quý báu, mà không quý báu thì không cần phải tiếc.

Trong đầu tôi vang lên một câu nói: “Anh ơi, chúng mình chia tay đi”, rồi tôi lại thôi. Chia tay rồi sao, ngày mai ra đường tôi lại gặp một anh chàng khác và lại bắt đầu lộ trình y hệt thế. Vì thế nên tôi chả muốn bỏ ai, tôi chỉ có thể chờ đợi đến ngày họ ra đi vì không thể có bất cứ sự kết nối tâm hồn nào với tôi. Làm sao mà kết nối nổi, đến tôi còn chẳng thể tự kết nối với chính mình.

Đôi khi tôi thấy thật khó hiểu về các bậc giác ngộ. Họ đi tìm sự vô hạn và đạt được sự vô hạn. Tôi không thể nào mường tượng được cái vô hạn ấy thì khác gì so với cái vô hạn mà tôi đang trải qua. Ừ thì cứ cho họ tan chảy trong ánh sáng còn tôi chìm trong bóng tối. Nhưng người ta làm sao có thể ở mãi trong ánh sáng được. Ánh sáng một lúc nào đó cũng phải nhàm chán chứ! Hay là giữa ánh sáng vĩ đại ấy, họ không còn tồn tại nữa nên cũng mất tiêu cảm giác chán nản. Vậy ra khác biệt là tôi vẫn còn một cảm giác, chưa vô cảm hoàn toàn. Chính sự chán nản khiến tôi chỉ gần đắc đạo chứ chưa thể đắc đạo.

Vậy đấy, cũng may là tôi chả nhớ gì về kiếp trước. Không hiểu tôi kéo dài tình trạng này mấy kiếp rồi. Tôi lại ngồi vào máy tính và lướt khắp cái mê cung ảo ấy. Đâu đâu tôi cũng thấy rặt một giọng chán đời y hệt tôi. Nỗi cô đơn không hề đưa con người xích lại gần nhau. Chung cảnh ngộ tạo nên sự đồng cảm thì tôi không biết, chứ chung cái cảnh ngộ cô đơn chán nản thì chỉ có đẩy nhau xa hơn thôi. “Hình như nàng có nỗi buồn giống tôi…”, câu ấy xưa rồi. Bây giờ có đến hàng tỉ người chung một nỗi buồn với nhau.

Đâu đó vài lời cổ vũ hãy yêu cuộc đời, hãy cố gắng phấn đấu, hãy đấu tranh vì những gì cao đẹp, hãy yêu thương và hãy hy sinh… Một lúc sau mấy kẻ vừa kêu ca rằng mình cô đơn bấy giờ bắt đầu bấm “Like” điên cuồng cho một thông điệp trái ngược hẳn. Và ngày mai, lại chính những người đó bắt đầu lại than thở vì sự lạc lõng giữa cuộc đời.
ST

Top of Form

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

XÁCH BA LÔ LÊN MÀ ĐI ... CHẾT


Có lẽ chúng ta vẫn chưa quên câu chuyện của chàng trai Aiden Webb – phượt thủ người Anh một mình chinh phục đỉnh Fansipan bằng con đường không chính thức, rốt cuộc bỏ mạng sau một cú ngã thẳng xuống vực. Tôi dẫn chứng để chúng ta hiểu rằng, con người có những giới hạn không được phép vượt qua nếu chưa đủ sức.

Hãy suy nghĩ điều này, nếu những chuyến chinh phục giúp con người trưởng thành hơn thì điều đầu tiên họ cần phải ngộ ra chính là trách nhiệm với bản thân và gia đình.
Tôi biết nhiều bạn trẻ lao đi chinh phục như một con thiêu thân, cứ hễ nghe về điểm nào có vẻ "hoang sơ, hay hay" là lập tức hô cao khẩu hiệu xách ba lô lên và đi.

Khi chưa có đầy đủ kỹ năng mà vẫn liều lĩnh dấn thân, đó là sự vô trách nhiệm. Khi "ăn cắp" những khoảng thời gian dành cho học hành và gia đình để thỏa mãn sở thích của bản thân, đó cũng là sự vô trách nhiệm.

Họ nhân danh đi tìm sự trải nghiệm để trưởng thành, nhưng khởi nguồn của chuyến đi lại là những suy nghĩ rất trẻ con, bồng bột. Đi không phải để khám phá. Đi chỉ để làm dày bộ sưu tập những điểm đến và khoe khoang mà thôi.

Để có thể cảm nhận được linh hồn của một vùng đất mới, chúng ta chỉ cần 1 bức ảnh và rất nhiều giờ khám phá; thay vì rất nhiều bức ảnh sau 1 giờ khám phá.
Hơn thế nữa, du lịch không phải là cách duy nhất để trải nghiệm, để trưởng thành, để tìm thấy chính mình.

Những cuốn sách hay, những giờ làm thêm, những hoạt động từ thiện, tình nguyện cũng giúp người trẻ va đập với cuộc sống và trở nên trưởng thành hơn gấp bội.

 ST

CHÚNG TA BẤT ĐỘNG NHƯNG THẾ GIỚI BẤT ĐỊNH

Chúng ta đang ở trong một thế giới hoàn toàn bất định, và dù hàng nghìn năm nay các chính trị gia, các lãnh tụ tôn giáo, các nhà khoa học, triết học … có cố biến thế giới thành đối tượng có thể xác định một cách rõ ràng thì nó vẫn cứ bất định. Thậm chí, càng cố xác định nó, nó càng trở nên bất định hơn.

Chấp nhận thế giới là bất định, không có nghĩa là ngồi im một cách lười biếng hay cầu giải thoát một cách hèn nhát. Nhưng cũng thật là ngu xuẩn khi chúng ta cố gắng vạch rõ ra cái nào là sai, cái nào là đúng, cái nào là tốt, cái nào là xấu, cái nào mới thật sự có giá trị còn cái khác là vô giá trị… ở một thế kỷ mà sự chuyển dịch đang diễn ra nhanh chóng.

Trên thế giới này, người ta chửi rủa nhau, mạt sát nhau, giết hại nhau, thậm chí là hủy diệt nhau chỉ để cố xác định cái thế giới này theo cách họ muốn thấy.

Đang có rất nhiều người cố gắng thay đổi thế giới theo cái thước đo đầy tính xác định của họ. Quyền lực của thước đo sẽ phán xét và trừng phạt bất cứ ai đó khác biệt. Quyền lực của thước đo sẽ biến thế giới của chúng ta, cuộc sống của chúng ta thành những cuộc chiến. Nếu bạn không bẻ gãy các thước đo này, chúng sẽ đập nát trái tim và trí não của bạn. Nhưng không thể lấy thước đo để bẻ gãy thước đo, không thể lấy thứ xác định để phá hủy một thứ xác định khác. Một cách đơn giản hơn: hãy cười, cười thật to, cười thật vang, cười rung động mọi tế bào…

Nếu bạn bị người yêu bỏ, hãy cười! Nếu bạn thất nghiệp và cháy túi, hãy cười! Nếu bạn thấy mình cô đơn và lạc lõng, hãy cười! Nếu bạn thấy ngày mai có thể là tận thế thì càng phải cười, cười lớn hơn nữa! Làm mọi điều bạn phải làm trong niềm vui và sự hứng khởi, vì quá mải vui bạn sẽ không còn thời gian để phán xét và phá hoại thế giới nữa… Và chỉ khi vui cười, dù có điên rồ, bạn mới đang tận hưởng cảm giác được là chính mình.

Đừng tin vào những lời hứa hẹn, đừng tin vào sự kích động, đừng tin vào những bài phân tích dài dằng dặc… hãy tin vào niềm vui bất tận. Nếu niềm tin là hành trang của kỷ nguyên tôn giáo, trí tuệ là hành trang của kỷ nguyên khai sáng, thì nụ cười và niềm vui là những hành trang tốt nhất cho chúng ta khi bước vào kỷ nguyên bất định.

 ST

VÔ ĐỀ

Vòng viên mãn (Tranh Torei Enji, 1721-1801)
Chu Mộng Long – Thế giới từ sau Descartes xuất hiện thuật ngữ: Possible horizon of understand – Chân trời của sự hiểu xác định giới hạn của tầm nhìn và vô hạn của tri thức trong tư duy của con người về thế giới. Sự áp đặt một tư tưởng, một cách hiểu đã tạo ra những cộng đồng diễn dịch hay diễn ngôn quan phương, nói như Foucault, thứ diễn ngôn ấy biến cả cộng đồng thành công cụ của ngôn ngữ quyền lực mà Kant trước đó gọi là tình trạng vị thành niên. Nói nôm na, tình trạng vị thành niên là tình trạng bầy đàn, ăn theo nói leo theo kẻ có quyền lực, và hệ thống quyền lực ấy sẽ tạo nên các Hồng vệ binh làm công cụ cho nó.
Trong tiểu luận Khai sáng là gì, Kant viết: Khai sáng là sự thoát li của con người ra khỏi tình trạng vị thành niên do con người gây ra. Tình trạng vị thành niên ấy chính là sự bất lực của tư duy (sự thiếu sót hay thiểu năng trí tuệ), lẽ ra phải vận dụng trí tuệ của chủ thể một cách độc lập  thì lại chỉ biết tuân theo sự chỉ đạo của người khác, bất luận là sự chỉ đạo ấy đúng hay sai, nhân tính hay phi nhân tính. Foucault ví sự điều khiển và chấp nhận sự điều khiển có tính cộng đồng như vậy không khác hoạt động trong các bệnh viện tâm thần mệnh danh là nhân đạo của những kỉ nguyên trung cổ.
Trong các bệnh viện tâm thần trước thế kỉ 20, người ta tập trung những người bị cho là điên vào các nhà tù được gọi là bệnh viện, bắt các bệnh nhân của mình răm rắp thực hiện các mệnh lệnh bằng đủ các hình thức trấn áp, tra tấn, trói buộc; hiệu quả là khi nào các bệnh nhân đạt tới hạn của sự sợ hãi: nói và làm đúng như ý muốn của người điều hành thì được xem là hết bệnh và được trả tự do!

Cuối cùng, khái niệm tự do được đồng nhất với sự sợ hãi!

Chu Mộng Long

ẨN DỤ "HANG ĐỘNG"/TRONG "QUẦY RƯỢU..."/TRIẾT LÝ "VÔ NGÔN"

Với Plato, thế giới sự vật cảm tính – Nhà Phật gọi “pháp hữu vi” – chỉ là những hình ảnh lý tưởng của nguyên mẫu Ý niệm in lên vật chất, còn Nhà Phật giải thích nguyên nhân do con người vô minh mà nó biểu hiện ra… Tất cả là nhiễu loạn, rất nhiễu loạn. Khắc phục tính chất nhiễu loạn này trở thành mối quan tâm đầu tiên của con người để ta có thể biết được điều gì đúng mà sống sao cho đúng với bổn phận làm người. Leonardo đề xuất chủ trương cần phải xây dựng một khoa học phê bình nghệ thuật!
Trong một ẩn dụ hang động nổi tiếng, Plato với thủ pháp ngoại suy đã ví con người ngắm nhìn thế giới như những tù nhân bị xích chặt vào một vách thấp trong một cái hang. Và cái mà con người nhìn thấy chỉ là cái bóng của chính mình cùng những hình ảnh nhập nhòa méo mó của đoàn người tự do nào đó cùng các hành động sinh sống của họ hắt lên vách hang bởi đống lửa phía sau lưng lũ người Promethe kia! Cơ quan tri giác của chúng ta không còn cách nào hơn, vì mỗi lần ta cố nhoài người ra sau là mỗi lần chiếc nêm Hephaestus lại thít ta vào những hình ảnh chập chờn ta thấy kia là thực.  Cogito, ergo sum  đã cố kéo con người ra khỏi những ám ảnh bởi chủ nghĩa giáo điều đồng thời với việc phê phán niềm tin ngây thơ vào các dữ kiện trực tiếp, thì lại vẫn còn “dùng dằng”: về phương diện luân lý, đôi khi cũng nên tuân theo những ý nghĩ mà ta biết là không chắc chắn (?!). Nhưng thôi, cũng không hẳn là tiêu cực hoàn toàn khi René Descartes lại căn dặn kỹ càng: đó là về phương diện luân lý còn như nếu là đi tìm kiếm chân lý thì phải làm ngược lại (!)
Thế giới Ý niệm của Plato tồn tại dưới 4 dạng 
1) Ý niệm tối cao được nhận thức bởi tri giác trí tuệ; 
2) Đối tượng của nhận thức toán học; 
3) Các sự vật cảm tính – đối tượng của những kiến giải (Kant gọi là thế giới hiện tượng);
4) Những hình ảnh thể hiện các sự vật cảm tính do con người tạo ra từ những vật tự nhiên (chẳng hạn những chiếc bình gốm).
Cái được tạo ra mà đỉnh cao là nghệ thuật. Plato, rồi đến Aristotle, coi nghệ thuật như là sự bắt chước (mimésis): bắt chước con nhện mà con người đan được lưới, dệt được vải; bắt chước con yến mà con người làm được nhà; bắt chước sơn ca con người biết hát ca, con thiên nga và họa mi mà con người biết múa… Thần thoại Hy Lạp quy hết vào vai trò của Promethe – một biểu tượng tự do sáng tạo của con người mà Marx rất yêu thích.
Thế giới các sự vật cảm biết thường biến, luôn sinh ra và mất đi, nên không chân thực và vì thế mà con người không thể kiểm soát, trừ nghệ thuật do nó sớm có lý luận phê bình. Thế giới này chỉ là sự bắt chước, mô phỏng, với Plato là những bản sao chỉ luôn hướng tới chứ không thể đồng nhất được với mô thức (bản chính): ý niệm cái thiện phổ biến có trật tự là bản chất đích thực của thế giới trần tục tinh khiết; con số là một dạng bản chất độc lập, là trung gian giữa ý niệm và các sự vật mà thông qua các quan hệ tỷ lệ toán học, ý niệm sẽ in hình của nó lên vật chất, như ấn chiếc nhẫn lên cục sáp, tạo nên thế giới các sự vật cảm tính… Cho nên tồn tại không phải là cái gì đó duy nhất mà là tổng thể của nhiều yếu tố.
Con người ngắm nhìn thế giới mà cứ vội tưởng là đã nắm bắt được thế giới. Nó “vô minh” là chỗ này: thế giới thường biến mà lại khư khư những “mê kiến” nên mới dẫn đến “mẹ hát con khen hay” (?!). Cái mà con người tưởng là thấy thì thực ra chỉ là những chiếc bóng in lên vách hang động của “đoàn người ngựa” kéo qua cửa hang được ánh sáng dọi vào. Đáng lẽ phải tìm đến ngọn nguồn của thế giới: Ý niệm, thì người ta lại có vẻ bằng lòng với những hình bóng hời hợt, phù du.
Nếu ta nhìn vào sự vật chỉ bằng… một con mắt, thì tất cả chúng ta sẽ cảm được như nhau hai chiều vectơ của không gian. Tuy nhiên, nếu biết nhờ đến sự tiếp sức của “con mắt còn lại” (chữ của Trịnh Công Sơn) não ta sẽ được cung cấp thông tin từ một góc nhìn khác. Các thông tin từ hai góc nhìn này sẽ chồng lấn lên nhau để tạo ra ở phần vỏ não thị giác một chiều rất sâu, mà một tay vỗ không kêu được là như vậy đấy!
Trong bức tranh “Quầy rượu ở Rạp Folies-Bergère” (1882), theo diễn giải của Leonard Shlain (**), Édouard Manet đã báo hiệu cho một sự xuất hiện hiện tượng vốn bị ngộ nhận trước một phần tư thế kỷ được thuyết tương đối hẹp “sửa sai”, thậm chí trước phát minh của Niels Bohr cả gần ½ thế kỷ (!).
Quầy rượu ở Rạp Folies-Bergère – Tranh Manet
Chúng ta sẽ nhìn thấy một cô phục vụ trẻ. Đẹp! Với khuôn mặt không hề biểu lộ một chút cảm xúc gì trước một tấm gương rất lớn phản chiếu lại cái thế giới đang ồn ào ở rạp Folies-Bergère. Một không gian sâu và hình như là rất sâu như một khung cửa sổ mở ra của vũ trụ đang giãn ra rất xa… Phản ánh trong đó là một đám đông, có lẽ là rất đông, đông lắm…, đông đến mức các hình ảnh cứ nhạt nhòa và càng nhạt nhòa theo khoảng cách hút xa… Bức tranh thông báo chẳng có giới hạn nào phía sau của cái rạp Folines… Một “đường chân trời” bao gồm các hình người lẫn lộn trong một không gian lờ mờ đến mơ hồ bất tận, gây nên một cảm giác choáng ngợp… Một chùm đèn, và rồi những đốm sáng nhấp nhánh cùng các khối cầu trắng sáng đủ kích cỡ dường như là bóng đèn lấp lánh vì lơ lửng như chẳng được treo móc vào đâu giống như điều con người thường thấy vào ban đêm khi ngước lên bầu trời quang đãng…
Một ảo giác tăng lên đến đột ngột tựa hồ như Manet kéo ngược tấm thảm dưới chân người quan sát với một tốc độ chóng mặt. Hình như người quan sát không đứng ở đâu, kể cả trước quầy rượu. Khoảng trống cả phía trên và dưới “bức tranh” khiến cho cái biển người được phản chiếu cũng lửng lơ như đôi chân được cắt rời từ một nữ diễn viên  nhào lộn đang đong đưa ở góc trên bên trái của bức tranh làm cho tất cả những gì trong tranh đều không trọng lượng. Phía sau cô gái phục vụ trong quầy là cả một vũ trụ mênh mông.
Một nghệ thuật phối cảnh khó mà tưởng tượng… nếu không được hỗ trợ của Plato về một nghệ thuật nhất thiết phải bao gồm thời gian chuyển động, bên cạnh không gian bất động: giữa tưởng tượng và thực tại chỉ tồn tại một sự khác biệt không đáng có, cái gì mà con người ta tưởng tượng ra một cách hợp lý, thì sớm muộn gì cũng trở nên có thể. Năm 1971, khoa học về các thiên thể khám phá ra một lỗ đen thực sự sau khi đã tưởng tượng ra nó. Hiện thực sở dĩ khác nhau vì chúng giống nhau đến nỗi Leonardo ngoại suy từ sóng nước: sóng âm cũng “như một hòn đá ném xuống nước trở thành tâm điểm của vô số vòng tròn, âm thanh cũng lan tỏa thành các vòng tròn như vậy trong không khí”.
Manet bằng việc xoay đảo điểm tụ và thách thức tính thẳng đứng của các đường vuông góc bằng việc uốn cong đường chân trời trước khi vật lý học giải thích được khái niệm “không-thời gian cong” năm mươi năm, đã làm cho người xem tranh thật sự bối rối. Rất ngạo mạn, Manet trình bày đường vuông góc thẳng đứng thành vặn vẹo và một đường chân trời cong cớn, có vẻ hơi chảnh qua tấm lưng của cô phục vụ được phản chiếu chệch về bên phải như đang nói chuyện với một người bạn hàng nào đó rất quen (!). Nếu chọn góc quan sát chệch một chút, từ bên phải, thì cô gái như cố thu hút sự “lả lơi” của ông khách, điều vẫn thường thấy trong các tửu quán: còn cô bán rượu anh còn say sưa… Trong khi đó, rõ ràng là tại cảnh chính phía trước cô gái hoàn toàn biểu hiện một tư thế đoan trang của phẩm hạnh không thể xem thường… Thế nhưng chúng ta lại hoàn toàn không thể thấy được một cách thật sự hình ảnh cô gái như một pho tượng Venus nếu như ông khách, lão bạn hàng đáng ghét kia đứng chắn trước mặt cô, khiến ta không nỡ dằn lòng mà không lỗ mãng một chút khuỷu tay hích nhẹ cùng một thông điệp với gã: hãy biến đi! “Tôi không muốn nhìn thấy ông, ông bạn !” Vậy là từ góc nhìn này ta không khó chịu bởi vị khách của cô gái kia… không có, nhưng khi thay đổi cái góc nhìn khác ghen tuông sẽ thật sự phẫn nộ khi gã “nát rượu” kia đứng chắn trước mặt cô gái thì ít còn làm mù mắt ta trước nhan sắc thì nhiều.
Đúng là ông khách nghịch ngợm và tinh quái. Cái tinh quái của giới đàn ông, mê… rượu, khiến Manet đã phải cầm cọ từ hai góc nhìn khác nhau. Mỗi quang cảnh không hề chứa thông tin ở quang cảnh còn lại kia. Hình như Manet muốn xây dựng nên khái niệm về một hiện thực được nhìn thấy từ hai điểm tách biệt trong không gian và thời gian được hình dung thành những thời điểm cách biệt. Tư tưởng nghệ thuật sâu xa như tiên lượng cho Einstein và Bohr về Huygens (1678): sự cần thiết phải kết hợp hai mặt đối lập của thực tại để tiến tới sự hiểu biết đúng đắn về nó.
———————————
(**) Leonard Shlain, Nghệ thuật và vật lý, Nxb Tri thức, 2010
Đối lập với hội họa Phương Tây, hội họa Phương Đông truyền thống coi không gian là trống không, tức rỗng: hình là rỗng, rỗng là hình(1) (Kinh Bát Nhã…).
“Pháp gốc như không pháp,
Chẳng có cũng chẳng không.
Nếu người biết pháp ấy,
Chúng sanh cùng Phật đồng.”(2)
Trong các kinh của Nhà Phật (và của Lão gia nữa) năng lực của trống không là sinh nở, một tên gọi khác của trời – tự nhiên, thuật ngữ khoa học gọi là sinh trưởng, đó là cái không vô hình đã hóa sinh ra tất cả những gì mà chúng ta gọi là vật chất.
“Triết học về những ý tưởng” Plato đã làm cho Leonardo bận tâm tới những hình ảnh phi vật thể. Cái “hình ảnh phi vật thể” đã thúc ông bước ra khỏi cái tượng trưng để gần hơn với trừu tượng. Tranh phong cảnh là điều không ai nghĩ tới của nghệ thuật Tây Phương cổ đại, mặc dầu lúc bấy giờ người nghệ sĩ đã được soi rọi bởi ý tưởng Plato và hình học Euclid.
Có lúc nào ta nhìn vào một bức tường nhem nhuốc do ẩm mốc, những bức tường thường thấy nơi nhà quê lam lũ nên bất chấp cả “vệ sinh”? Nếu khó khăn quá thì hãy ngước nên bầu trời, nơi tượng trưng cho đạo đức trong sáng! Và để dễ “kiểm soát” thì hãy tạo cho nó một cái nền, khi đó, ta sẽ ngỡ ngàng trước một bức tranh “ngang ngửa” với tranh sơn thủy của các cố họa sĩ Trung Hoa cổ kính. Nếu trí tưởng tượng phong phú ta có thể hình dung ra một cảnh trí niết bàn: núi non, hoa cỏ, cây, cá, đền đài, lâu đài, biệt thự, khách sạn, nhà hàng, với những khuôn mặt gầy héo vì hi vọng, những khuôn mặt thừa mứa vì dưỡng chất, trang phục như văn công, ngựa xe như lễ hội đầu xuân… Ôi chao, cái gì mà không có! Tất cả…, nếu được tinh giản thành những hình thức cực kỳ hoàn chỉnh và thích hợp, ta lại cũng có thể nghe có tiếng sáo, tiếng chuông…, với những âm điệu du dương hay não nề than vãn…
Thì ra cả vũ trụ cũng chỉ tương đương như một hạt cát! Triết lý Đạo học coi một là tất cả, tất cả là một. Dịch biến là quá trình vốn có của hiện thực, biện chứng pháp là phép thuận theo hiện thực. Hiện thực là bản thân như thế, vốn dĩ như thế, “tự nhiên nhi thiên”. Không ai, trừ Procruste (nhưng trong truyền thuyết Hy Lạp, hắn là một tướng cướp), có quyền quy tự nhiên phải thế này, phải thế khác: chân vịt thì ngắn, nhưng nối chân cho vịt vịt sẽ buồn; chân hạc thì dài, nhưng cắt bớt cho hạc thì hạc sẽ lo, tính dài không phải là để cắt bớt, tính ngắn không phải là để nối thêm, cho nên, “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” (Lão tử). “Thiên tại nội, nhân tại ngoại, đức tại hồ thiên”(3)(Trang tử). Đạo đức cao thượng là thuận theo tự nhiên vì không thể không thuận, cố tình cưỡng lại tự nhiên cũng như chặt chân hạc, nối chân vịt, đó cũng là đức nhưng mà là đức vô đạo.
Vấn đề phải sao cho đức hợp làm một với đạo: “Nhân pháp tự nhiên”.
Suốt gần 20 năm lắng nghe Plato, Aristotle đã trở thành người sinh viên giỏi tranh biện nhất với thầy mình, khiến thầy phải thốt lên: với Aristotle cái roi chưa đủ, mà còn phải cả với cái đinh thúc ngựa mới có thể chế ngự được “cậu học trò” này. Aristotle đã bất đồng với rất nhiều ý tưởng của Plato. Trong cuốn Siêu hình học, ông đã phê phán “thế giới ý niệm” của Plato. Rằng, những mô thức và những cái đặc thù không hề tồn tại tách biệt nhau. Những mô thức được hiện thân trong những cái đặc thù như là tiềm năng thể. Để dễ hình dung, mà hình dung là tạo ra một hình ảnh, thì tôi (tác giả) xin nói thế này: mỗi quả trứng gà đều mang trong bản thân nó cái mô thức của con gà tiềm năng. Một người nếu chú ý quan sát một cách không phiên phiến những cái đặc thù trong tự nhiên đều có thể rút ra ý tưởng là những kết luận về cách thế giới vận hành và những động cơ điều khiển nó, bằng phép quy nạp. Quan niệm về đạo đức của Aristotle cũng không giống như thầy: đạo đức không phải là một loại tri thức đặc biệt như toán học mà chỉ một số ít người có thể đạt tới. Nó là một thái độ của tâm trí và là một cách hành xử thực hành mà bất cứ ai cũng có thể đạt tới nếu được học hỏi và có kinh nghiệm đầy đủ. Triết học Aristotle tuy rất khác với thầy mình, song ông thừa nhận ấy là nhờ vào việc Plato đã đặt ra được hệ thống những câu hỏi rất có khả năng phát sinh.
Một thời kỳ rất dài và cũng rất lâu, người ta tôn vinh Aristotle về công trình khoa học phê phán Plato như là phê phán một học thuyết duy tâm phản động. Sự phê phán ấy có lợi cho chủ nghĩa duy vật vì nó phá hoại không thương tiếc cơ sở của chủ nghĩa duy tâm, để trên cái đống hoang tàn đổ nát về cơ sở thế giới quan của ý thức hệ tôn giáo và thần học, nó dựng nên một lâu đài tráng lệ bằng thao tác ngược suy (?!). Thực ra, công lao lịch sử của Aristotle, nếu không phải là một sự biểu hiện sự đột hiện phản ánh sự tiến hóa không hẳn chỉ theo sự rẽ nhánh của sinh vật, thì đó chỉ có thể là một dự đoán theo xác suất. Nhưng đột hiện thì lại không thể đoán trước và như vậy, không thể coi như thế là cách mạng. Việc phê phán một học thuyết là thiếu khoa học không đem lại cho học thuyết phê phán tính chất mới mẻ hơn, mà phê phán một đối tượng nào đó là thiếu căn cứ chỉ vì đơn giản là nó muốn tỏ ra chỉ có nó mới là khoa học, thì lại không phải là động cơ của Aristotle.
Sự phủ định đối với cái cũ là có được cái mới chỉ là một trò chơi chữ, Karl Marx nói như vậy. Aristotle đã tủm tỉm khẽ hích vào sườn Descartes: tôi không phải là không biết điều ấy. Thực tế, “chủ nghĩa xã hội hiện thực” đã là phép nghịch luận Goodman từ chủ nghĩa tư bản, và từ mệnh đề B suy ra, sau thời gian t, mà về thực chất, thì logic Aristotle coi đó đơn thuần chỉ như là phép phân đôi khái niệm mà thôi! Nếu chỉ bác bỏ ý tưởng về trọng lực, Marx đùa, vẫn chưa đủ để khỏi chết đuối, còn phải học bơi nữa (Hệ tư tưởng Đức, lời tựa)! Sự lật ngược thật sự đối với chủ nghĩa ý tưởng sao không thấy kết quả là chuyển sang chủ nghĩa hiện thực ở Aristotle. Nếu có…, chắc chắn là Marx đã rút khỏi Luận cương về Feuerbach cái luận đề thứ 11 rồi!
Kết quả của sự phủ định mệnh đề A người ta sẽ thu được mệnh đề không A, trong tiến hóa có thể coi như một sự rẽ nhánh. Có bao nhiêu loài đã tiêu vong bởi sự nhường chỗ cho các loài khác tiến hóa lên. Như vậy từ A chuyển thànhkhông A khiến không A bao hàm cả tiến bộ lẫn thoái bộ. Khắc phục điều này phép phủ định của phủ định đòi hỏi phải qua hai lần phủ định thì thực thể mới hoàn thành được một chu kỳ phát triển. Sự vật cuối chu kỳ, khi đó mới có được sự tiến bộ thực sự hơn sự vật ban đầu. Đó là lý do để Engels phân tích xã hội cộng sản nguyên thủy mà viết nên “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” để sửa soạn cho chủ nghĩa xã hội khoa học. Bản thân lần phủ định trực tiếp (thứ nhất) chỉ đưa lại mặt phản diện. Sự phản diện lại cái phản diện mới đem lại cái chính diện. Mọi sự rào đón cái này là tiến bộ so với trước đó, không đem lại cho mặt phản diện sự tiến bộ mặc dầu mặt phản diện này có thay hình đổi dạng đến thế nào thì cũng chỉ đưa lại cho nó sự đánh bóng chứ không hơn, và nó càng ngày càng xa hơn cái “pháp gốc”! Nhà Phật coi đó như sự lầm lạc trong thế giới hiện tượng.
Sự diễn biến, đổi mới của hệ thống tự nhiên bao gồm nhiều quá trình nối tiếp, trong đó biểu hiện sự sản sinh đột nhiên của những chất mới ở điểm tới hạn. Theo logic của thuyết rẽ nhánh thì tại các điểm tới hạn, cơ hội hình thành các trạng thái (cả thế này lẫn thế kia) là như nhau mà trạng thái đột nhiên xuất hiện chỉ là một trong những khả năng của thời điểm tới hạn ấy. Cho nên tính không thể quả quyết, tức nhất thiết của sự đột hiện là do tính tùy ý ngầm bên trong hệ thống phi tuyến tính quy định.
Ai thuận với động lực học – khoa học về sự diễn biến của hệ thống, tất phải thuận theo các quy luật thay đổi theo thời gian của trạng thái hệ thống. Khi các quy luật này được miêu tả bằng các phương trình vi phân, phương trình vi phân riêng phần, phương trình sai phân… và giải bằng phương pháp thay thế dần, thì phải coi trạng thái của hệ thống ở thời điểm sau là do trạng thái ở thời điểm trước quyết định. Quan hệ gữa hai trạng thái được xác định bởi phương trình chuyển động. Đối với hệ thống phi tuyến xác định, thì dù không có những nhân tố bên ngoài tác động, dù không có nhiễu loạn bởi hiện tượng đám đông, và kể cả điều kiện ban đầu là xác định thì bản thân hệ thống phi tuyến vẫn sản sinh tính tùy ý. Tính chất bất toàn của hệ thống khiến nó tự thân mang sẵn một sự khiếm khuyết khiến nó phải tìm kiếm lẫn nhau để tạo nên sự tương liên(4). Không như thế không thể hiểu được định luật “biến dị và di truyền” dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên trong sinh học.
Năm 1859 (xuất bản Nguồn gốc các loài) Charles Dawin khi cho rằng, quá trình tiến hóa là do mối tương tác giữa thách thức của môi trường và sự thích nghi của cơ thể đối với nó, thì cũng đột ngột dừng lại tại đó. Nhưng điều gì khiến cho một loài thú có vú đã cố gắng “leo” lên được đến đó rồi thì lại tụt xuống đại dương mà kiếm ăn để trở thành biểu tượng sinh động của “lối bóc lột tư bản”? Chắc là Darwin sẽ ngạc nhiên lắm khi nghe nói cơ chế để các hình thái sống phản ứng với thay đổi là sự đột biến ngẫu nhiên xảy ra tại mỗi nguyên tử AND trong tinh trùng hoặc trứng. Những đột biến ấy lại là kết quả bắn phá cấu trúc nguyên tử AND từ các tia vũ trụ. Nhọc nhằn vượt qua hàng tỷ năm ánh sáng, một mệnh lệnh phát ra từ các ngôi sao đã tìm thấy một đoạn gen, làm biến đổi nó, và làm thế, nó đưa lại một thông điệp cho tương lai không thay đổi là chết, ít ra thì cũng là đối với tất cả các hình thái sống. Hóa ra, chúng ta và cả những gì nữa…, cùng với những ngôi sao xa xôi kia lại cũng nằm trong cùng hệ thống. “Đèn nhà ai nhà nấy rạng” mới thật thua thiệt xiết bao!
Theo nguyên lý tự thân, mà tự nhiên thì còn nguyên lý nào nữa (?!): tự nhiên là sản sinh. Tính tùy ý sản sinh từ trong tính xác định. Tính xác định tự quy định tính không xác định. “Cái tất nhiên là do tính ngẫu nhiên thuần túy cấu thành, còn cái gọi là ngẫu nhiên lại là một hình thức có ẩn giấu tính tất nhiên ở bên trong” (Engels). Sự xuất hiện các nhân vật xuất sắc trong lịch sử là tất nhiên vì do nhu cầu xã hội, còn nhân vật ấy là ai lại là ngẫu nhiên vì nó không trực tiếp phụ thuộc vào tiến trình chung của lịch sử (5). Lịch sử thế giới đương đại vừa ghi nhận, khi ông Kim Jong Il gạt bỏ ngôi kế vị xác định từ người con trai trưởng, thì “anh” Kim Jong Un, thay vì ôm cái “bình sữa”, đã nghiễm nhiên ngồi chờ “bấm nút” từ chiếc va ly vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn!
Hệ thống phi tuyến phụ thuộc rất lớn vào và rất nhạy cảm với điều kiện ban đầu. Điều kiện ban đầu chỉ khác một li mà nghiệm sau này có tính sai biệt cả hàng dặm. Không như thế sao gọi là tự nhiên được. Khó mà có thể bảo vệ được quan niệm về cái trước dù có thế nào thì sau vẫn cứ là như thế, và vì thế, khó mà có thể dự đoán trước đối với hành vi sau một thời gian dài của hệ thống, trừ nghệ thuật bonsai đối với người làm vườn.
Theo lý thuyết xác suất, thì sự xuất hiện mặt sấp hay ngửa của một đồng tiền kim loại khi được gieo là 50/50. Cho nên khả năng xuất hiện của mỗi mặt của đồng tiền cũng chỉ 50/50, đó là tính xác định của hệ thống và là chỗ tồn tại của quy luật động lực, nhưng quy luật động lực lại không có ý nghĩa gì khi cần xác định sự xuất hiện của một mặt đồng kim loại kia trong mỗi lần gieo, trừ các nhà phù thủy… Như thế, tính xác định của hệ thống phi tuyến là có khả năng mô tả, nhưng mô tả chẳng để làm gì, trừ khi nó rơi vào tay các vị… thầy mo!
Mức độ phi tuyến khi tới hạn thì hệ thống sẽ đi vào hỗn độn thông qua sự rẽ nhánh với chu kỳ bội. Không như thế thì nếu như chưa phải là chấm dứt, thì đó là đang teo tóp, nói thẳng ra là chết dần, một cái chết được báo trước bởi quy luật động lực. Người thấm nhuần tinh thần luận lý và tinh thần khoa học thực nghiệm cứ quả quyết: muốn là được. Thế nhưng, thực tế lại cho thấy một sự không đâu có thể làm xoay chuyển lịch sử của cả một dân tộc hay lịch sử của một đời người! Sử gia Herodote có đoạn kể: đội quân Assur trong thế “tiếng sét không kịp bịt tai”, nhưng chỉ còn mỗi cách đào tẩu trước quân Ai Cập vì, chỉ trong một đêm trước sáng ngày sẽ làm cỏ đô thị Ai Cập, tất cả dây cung của đội quân này đã trở thành món khoái khẩu của một bầy chuột khủng!
Khi Caesar trông thấy, trong những dũng tướng vung dao về phía mình có Brutus, người rất có thể là con ông, bởi ông từng là tình nhân của mẹ Brutus. Là một người rất công bằng, song ông không bao giờ không để mắt tới và ra sức bênh vực Brutus vì vợ của Caesar không hề biết đẻ. Caesar đau đớn: “Brutus, ngươi cũng ở trong bọn này ư? Thế thì, hãy ngã xuống thôi, Caesar” (Shakespeare, kịch Julius Caesar).
———————–
(1)  Thích Thanh Từ, Sắc là không, không tức sắc/ Không là sắc, sắc tức không. Thiền Sư Việt Nam,. Nxb Tp HCM, 1999,  135.
(2)  Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Nxb Tp HCM, 1999, 123.
(3) Tự nhiên là căn bản bên trong, nhân tạo là thứ lộ ra bên ngoài, đạo đức cao thượng là thuận theo tự nhiên.
(4) x. Nguyễn Đình Cửu, Tìm hiểu triết học tự nhiên,  Nxb Hà Nội, 2006, Chương IV, tiết 1,2,3.
(5)x. Bộ GD&ĐT, Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006, 210.

Nguyễn Thanh Hải 

THỰC VÀ ẢO

Chu Mộng Long – Cặp phạm trù Thực và Ảo, Hữu và Vô luôn là vấn đề phức tạp nhất của triết – mỹ học, bởi từ lâu hai con mắt của loài người chỉ biết nhìn về một phía định hướng cho một lối tư duy. Người Hy Lạp từng tạc tượng Plato chỉ tay lên trời, Aristotle chỉ tay xuống đất biểu thị 2 cái nhìn đối lập trên hành trình đi tìm sự thật của cái đẹp. Từ đó các diễn ngôn về cái đẹp bị rẽ ra thành các hướng khác biệt trong các cuộc tranh chấp hơn thua của trò chơi trí tuệ.
Trong cuộc tranh chấp ấy, người ta quên mất rằng, cặp Plato – Aristotle chỉ là 2 nửa của sự thật. Một thế giới lí tưởng phải là một thế giới hòa điệu của những khác biệt, điều mà Heraclite đã từng tiên tri bằng phép biện chứng về vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp tinh thần: cái kì diệu của tạo hóa là sự kết hợp hài hòa của những khác biệt và tài năng của nghệ sĩ là kết hợp khéo léo những khác biệt lại với nhau thành một chỉnh thể hài hòa.Một bản nhạc hay phải là sự tương tác, điều chỉnh lẫn nhau giữa những âm khác biệt để tạo nên tiếng vang âm nhạc. Vai trò điều chỉnh ấy, theo âm nhạc học, chính là chủ âm (tonic), nhân tố hòa giải những xung đột theo chiều hướng phát triển. Sự xuất hiện những “âm bất trị”, đối kháng, trước hết là do nhân tố chủ âm mất hết quyền uy, tiền hậu bất nhất trong quá trình điều hành của nó.Nghệ thuật quá khứ đã làm được điều này, nhưng cách phối âm, phối màu của nó vẫn cứ đơn nhất một chiều theo phương pháp hòa điệu lý tưởng, loại trừ thẳng thừng những âm bất trị ra ngoài hệ thống.Phải đợi đến Picasso mới thực sự phá vỡ sự đơn nhất bằng cái nhìn nhiều hướng qua những tác phẩm lập thể nổi tiếng chứng minh cho sự hòa điệu của những xung đột tưởng chừng không thể hòa điệu.Khác là lí do của tồn tại, cả vi mô lẫn vĩ mô. Không có sự tồn tại đơn nhất, hoặc ảo hoặc thực, hoặc hữu hoặc vô mà có khi ảo thành thực, hữu thành vô và ngược lại. Nhất nguyên luận chỉ là sự ngụy biện của một hệ thống giả tạo, một nửa của sự thật được chứng minh bằng thứ tri thức bổ củi dưới sức mạnh cơ bắp của quyền lực để giành thế ưu thắng trong từng giai đoạn lịch sử. Và thế là lịch sử cứ bị vận động chệch hướng, cong vênh đến mức quá ngưỡng buộc phải điều chỉnh lại sau những nhầm lẫn khổ đau.Không phải ngẫu nhiên mà Leonard Shlain đem nối kết nghệ thuật và vật lí để tạo nên một cuộc đối thoại và tương tác không ngừng giữa hai kiểu nhận thức khác biệt, và cuối cùng, rất cần thiết, phải quy về một mối trong trò chơi trí tuệ vô tận của nhân loại (*).Thế giới văn minh, hiện đại thực sự phải là thế giới hòa điệu của những khác biệt để cuộc sống là bản hòa âm sống động, đa dạng. Giá như chính trị gia biết tự phế bỏ võ công của cơ bắp để tìm ra phương pháp hòa điệu của những khác biệt theo cách của nghệ sĩ thì cuộc sống bớt nặng nề, căng thẳng hơn nhiều.Đối thoại để tìm ra trong sự khác biệt có tiếng nói chung chính là phương pháp khôn ngoan của kỉ nguyên văn minh. Thi học, âm nhạc học gọi là thực hiện nguyên lí tương đương của những dị biệt.Chụp mũ, khiêu khích, trấn áp chỉ tạo ra sự chia rẽ, đối kháng, tất yếu bạo lực nảy sinh đẩy thế giới vào tình trạng hỗn loạn. Và cái hệ thống đơn nhất đang tồn tại ấy tưởng như đang sở hữu một bộ máy khổng lồ phát ra âm thanh ầm ĩ lấn át mọi âm thanh khác, nhưng thực chất chỉ là một tập hợp giả tạo của một dàn nhạc gồm những âm thanh giống nhau, nó chỉ phát ra nhất thời và hậu quả là sự phân rã thành một mớ rời rạc và tự tan biến vào hư vô mà không để lại chút dư vang nào.Bạo lực chỉ có thể bị trả giá bằng bạo lực. Và nhân loại đã nhiều lần phải đào huyệt chôn thứ bạo lực ấy vào trong nấm mồ của sự lãng quên đau khổ.Hữu thành Vô, Thực thành Ảo là vì thế. Trong khi sự im lặng – vô ngôn không có nghĩa là không. Lưu thủy vô thanh vạn cổ cầm (câu thơ này hình như là của cụ Hồ đấy) – một thứ tiếng nói đang âm thầm cuộn chảy trong hàng triệu trái tim có sức mạnh hơn mọi tiếng nói ầm ĩ được hỗ trợ bằng các dàn âm thanh và mạng điện tử.Chỉ gương đôi mắt nhìn thấy cái Hữu mà tưởng Thực thì cái Thực ấy còn Ảo hơn cả Ảo và rơi vào hoang tưởng hơn cả hoang tưởng. Người điều hành bản hợp xướng của thời đại phải thấy cái Hữu trong cái Vô này may ra mới cứu vãn được tình thế có nguy cơ hỗn loạn trước xu hướng tự do hoang dã, hỗn mang.

 Chu Mộng Long

VĂN HÓA VÀ TỰ NHIÊN


Chu Mộng Long – Bản sơ thảo về cặp phạm trù Văn hóa/ Tự nhiên. Văn hóa không phải là thứ cố định mà là một tiến trình. Sự tương tác giữa các khác biệt là động lực của phát triển. Không có chuyện quay về những cái cổ xưa, lỗi thời để mặc định là văn hóa truyền thống hay duy trì bản sắc.
Hiện tại có đến vài trăm định nghĩa về văn hóa tùy theo đối tượng trong các công  trình nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hiểu thế nào cũng được, rằng văn hóa là tất cả những gì con người tạo ra.
Công trình nào cũng có giới hạn đối tượng và phạm vi của nó chứ không phải tùy tiện. Nhưng cách sử dụng từ “văn hóa” trong tiếng Việt đã lạm phát đến mức báo động.
Trường hợp lạm phát thứ nhất,  người ta xem văn hóa là tất cả, những gì tùy tiện nhất đều có thể khoác lên nó chiếc mặt nạ văn hóa. Chẳng hạn, tranh cướp trong các lễ hội thành “tranh cướp văn hóa”, chém giết động vật (như chém heo, đâm trâu) thành “chém văn hóa”… Cho đến một hành vi hối lộ cũng được xem là “văn hóa biếu xén”, một cố tật nói ngọng cũng được xem là “văn hóa địa phương”.
Trường hợp lạm phát thứ hai, người ta xem văn hóa là sản phẩm chính thống để đào thải văn hóa phi chính thống. Với cách nhìn này, những mặc định theo cấm kị là văn hóa mà phản kháng là vô văn hóa. Chẳng hạn, những gì thuộc về dân gian đều xem là phản văn hóa, đến mức tiếng mẹ đẻ cũng bị xem là vô văn hóa buộc phải dùng tiếng nói dân tộc khác để thay thế như một sự mặc cảm nô dịch.
Trường hợp lạm phát thứ ba, người ta xem văn hóa là những gì xưa cũ với mưu toan phục dựng truyền thống để đưa cộng đồng ngược dòng lịch sử trở về cái gọi là bản sắc hay cội nguồn. Những lễ hội man di, những hủ tục đồng bóng lỗi thời đều được xem là văn hóa. Tôi từng nói, cứ đà này, đến lúc người ta đem tế sống gái đồng trinh cho Hà Bá và tôn vinh các thầy mo thành những ông vua siêu quyền lực.
Không chỉ lạm phát trong đời sống mà còn lạm phát trong nghiên cứu khoa học. Hàng trăm công trình thạc sĩ, tiến sĩ đều gán cái đuôi văn hóa như một cái mode thời thượng, trong khi người thực hiện công trình không rõ văn hóa là cái gì, thuộc văn hóa nào.
Văn hóa, gốc Latin “Cultus”, nghĩa là gieo trồng. Con người làm ra giá trị vật chất và chuyển giá trị vật chất thành tinh thần trong cái cây lịch sử mà toàn bộ quá trình tiến hóa loài người đã hình thành với khát vọng từ bóng tối vươn ra ánh sáng, từ hỗn mang vươn đến trật tự, từ bầy đàn vươn đến tự do khai phóng.
Cấu trúc luận đã tạo ra cái nhìn nhị phân, đối lập văn hóa/ tự nhiên như là đối lập giữa quy tắc và phổ quát dẫn đến đối lập văn hóa chính thống và phi chính thống. Cái nhìn này có gốc gác từ siêu hình học truyền thống khi tạo ra ranh giới giữa Tục và Thiêng. Tục nghĩa gốc thuộc về những gì trần tục của loài người, còn Thiêng thuộc về thiên đường của thần thánh. Siêu hình học quan niệm, khi con người bị đày xuống trần gian, những gì thuộc trần tục bị cấm kị để thực hiện nhu cầu giải thoát và trở về nguồn gốc thần thánh. Sự cấm kị này được thực hiện cực đoan từ hành vi đến lời nói: cấm dục, diệt dục, kể cả cấm nói tục.
Phân tâm học xem văn hóa là sự điều chỉnh giữa tự nhiên và cấm kị (taboo), hợp thức hóa cái tự nhiên trong các quan hệ xã hội đặc thù.  Trong cách nhìn này, văn hóa không hoàn toàn đối lập với tự nhiên mà chỉ là sự dịch chuyển tự nhiên thành các biểu trưng. Phân tâm học không chủ trương cấm dục hay diệt dục mà dùng hình thức thay thế như một hoạt động giải phóng năng lượng và thăng hoa của sáng tạo. Không thể nói Hồ Xuân Hương không tục mà thậm chí rất tục bởi các biểu trưng trong thế giới nghệ thuật ấy mang đậm sắc dục của cuộc sống trần tục.
Giải cấu trúc kế thừa Phân tâm học bằng cách tháo dỡ sự đối lập nhị phân của siêu hình học và Cấu trúc luận trong cái nhìn đa nguyên về tính khác biệt và tương tác giữa các hệ thống văn hóa. M. Bakhtin là người đầu tiên quyết liệt chống lại lối tư duy này khi vạch ra sự tương tác giữa văn hóa chính thống và phi chính thống thông qua hai loại hình lời nói trang nghiêm và giễu cợt, ngợi ca và trào tiếu. Even Zohar cho rằng, văn hóa có tính chất đa hệ thống, đa trị. Chính thống chẳng qua là một ước lệ về các trung tâm thống trị và chính nó tạo ra sự phân biệt kì thị giữa trung tâm và ngoại biên; trong khi những gì thuộc về ngoại biên lại năng động và đầy sáng tạo có khả năng tác động ngược làm thay đổi các trung tâm tưởng chừng cố định. Văn hóa dân gian, văn hóa các dân tộc thiểu số, lưu vong… là những điển hình. Những nhà giải cấu trúc về sau như R. Barthes, M. Foucault, J. Derrida, F. Lyotard… vạch trần bản chất giả tạo của văn hóa chính thống, xem văn hóa chính thống chỉ là ngụy ước của trò chơi quyền lực và tri thức. Barthes vạch trần sự “đánh đĩ ngôn từ” của huyền thoại thực dân. M.Foucault vạch trần sự hàm hồ của quyền lực áp đặt thành thứ tri thức giả tạo bằng sự phân biệt lí trí và chứng điên. J. Derrida nói, các trung tâm chỉ là giả tạo, nó luôn bị phát tán thành cái khác, “trung tâm, vì thế, không là trung tâm”. Còn F. Lyotard chỉ ra thế giới chúng ta đang sống chỉ là những bản thế vì (substitute), văn hóa xét đến cùng chỉ là cái ảo trong trò chơi ảo vô tận.  Chính trò chơi ảo ấy, con người thực hiện những cuộc hủy-tạo liên tục để vươn tới tự do khai phóng tinh thần thoát khỏi sự kiểm soát hay nô dịch của các trung tâm quyền lực mà nó ngụy trang là chân lí, là vẻ đẹp của mode đồng phục (uniform mode).
Văn hóa, dưới góc nhìn ấy, không phải là thứ cố định mà là một tiến trình. Sự tương tác giữa các khác biệt là động lực của phát triển. Không có chuyện quay về những cái cổ xưa, lỗi thời để mặc định là văn hóa truyền thống hay duy trì bản sắc.
Các chỉ báo văn hóa phản ánh trình độ của tiến trình văn hóa. Một dân tộc luôn lấy cái cổ xưa đã lỗi thời làm chuẩn mực chỉ có thể là dân tộc không chịu phát triển.
Như vậy, văn hóa xét đến cùng là sự dịch chuyển tự nhiên thành sáng tạo. Nó là trò chơi nằm giữa tự do và cấm kị. Mọi sự tự do tùy tiện đến hoang dã không là văn hóa. Ngược lại, mọi cấm kị đến khắt khe tiêu diệt toàn bộ sự tự do sáng tạo của con người là ngụy văn hóa. Nó đơn giản như tôi từng viết, văn hóa tồn tại như là quan hệ giữa cái quần và cái trong quần. Hai cái này không phủ định để loại trừ nhau mà là quan hệ biện chứng để phát triển lành mạnh. Cái trong quần là tự do của hạnh phúc trần tục, nhưng chính cái quần lại điều chỉnh nó vào tất yếu khi nó không thể phát dục một cách tùy tiện hoang dã gây ảnh hưởng đến cộng đồng. Cũng như thế, cần nói rộng ra, rằng ỉa đái bình đẳng với ăn uống như hai nhu cầu dị hóa và đồng hóa tự nhiên. Không có lí do gì phải phân biệt đến kì thị, rằng ăn uống là trung tâm, thuộc văn hóa (mang danh là văn hóa ẩm thực), còn ỉa đái chỉ là ngoại biên, không được xếp vào danh mục văn hóa nào dẫn đến cả cộng đồng phải sống chung với sự tùy tiện bẩn thỉu. Người ta còn kì thị đến mức ngôn ngữ của nó cũng bị cấm kị và rơi vào nghịch lí: không được nói đến ỉa đái nhưng lại tràn ngập khẩu hiệu: cấm đái, cấm ỉa. Trong khi cả hai mặt: ăn uống tham lam, bẩn thỉu cũng như ỉa đái tùy tiện mất vệ sinh đều là vô văn hóa. Ngược lại, ăn uống đúng mực, ỉa đái đúng chỗ là văn hóa trong nghĩa xã hội đầy đủ của nó. Con người hơn động vật ở chỗ “giáo hóa dĩ thành văn” (Kinh Dịch), nó biết chuyển nhục dục thành tinh thần, khoái lạc thành sáng tạo. Với tinh thần ấy, văn hóa vận động liên tục trong trò chơi hủy-tạo của con người. Trong thế giới mở đa chiều, đa nguyên với tương tác của những khác biệt, thế giới vận động ở nghĩa tích cực nhất mà con người đang hướng đến vì tương lai hơn là quay về quá khứ để tự sướng, tự mãn trong đống tro tàn.
Cần nhắc lại, văn hóa không đồng nghĩa với “đánh đĩ ngôn từ” – từ dùng của nhà kí hiệu học R. Barthes. K. Marx nói, chân lí là sự thật, không nói thẳng được vào sự thật không vào giờ tiếp cận được chân lí.
Chu Mộng Long
23.11.2016


Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

THƯỢNG ĐẾ CŨNG KHÔNG BIẾT

Thượng đế lấy đất sét nặn ra con người. Khi Ngài nặn xong vẫn còn thừa ra một mẩu đất.
- Còn nặn thêm cho mày gì nữa? - Ngài hỏi
Con người suy nghĩ một lúc, có vẻ như đã đầy đủ tay, chân, đầu... rồi nói:
- Xin Ngài nặn cho con Hạnh phúc.
Thượng đế dù thấy hết, biết hết nhưng cũng không hiểu hết Hạnh phúc là gì. Ngài trao cục đất cho con người và nói:
- Này, tự đi mà nặn lấy cho mình Hạnh phúc.
...
 
Copyright © 2016 Braintrust Sức mạnh cộng đồng